Một số bất cập trong quy định về các biện pháp tư pháp trong Bộ luật hình sự năm 1999

Thứ Ba, 24/12/2013, 15:30 [GMT+7]
    Các biện pháp tư pháp là những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước nhưng không phải là hình phạt do Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng như là hậu quả của việc phạm tội, tác động đến người phạm tội nhằm hỗ trợ để đạt được mục đích phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng. Hệ thống các biện pháp tư pháp bao gồm các biện pháp tư pháp áp dụng chung như: tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; bắt buộc chữa bệnh và các biện pháp tư pháp áp dụng riêng đối với người chưa thành niên phạm tội, bao gồm các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng. 
 
    1. Tịch thu vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm
 
    Đây là biện pháp nhằm tước đoạt công cụ, phương tiện phạm tội, những lợi ích bất chính do phạm tội mà có, vật cấm lưu hành có tác dụng hỗ trợ hình phạt, tác động vào ý thức người phạm tội làm cho mục đích phòng ngừa được hiệu quả và triệt để hơn. Thực tiễn thi hành BLHS cho thấy, đây là biện pháp tư pháp rất cần thiết và có phạm vi áp dụng rộng, tần suất áp dụng cao.  
    Khoản 1, Điều 41 BLHS quy định việc tịch thu sung quỹ Nhà nước được áp dụng đối với: công cụ, phương tiện dùng vào việc thực hiện tội phạm; vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.
    Theo khoản 2, Điều 41 BLHS khi áp dụng các biện pháp tư pháp này cũng cần lưu ý là nếu vật, tiền bạc liên quan đến tội phạm nhưng lại là tài sản thuộc sở hữu của người khác thì Tòa án chỉ có thể tịch thu khi họ có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng tài sản của mình vào việc phạm tội. Đối với vật, tiền bạc thuộc sở hữu XHCN hoặc thuộc tài sản của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép thì không tịch thu mà trả lại cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (khoản 3, Điều 41).
 
    2. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi
 
    Điều 42 BLHS quy định người phạm tội phải trả lại vật hoặc tiền bạc đã chiếm đoạt được cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Trong trường hợp tài sản bị chiếm đoạt hay bị sử dụng trái phép bị hư hỏng do người phạm tội gây ra thì Tòa án buộc họ phải sửa chữa thiệt hại gây ra. Nếu tài sản đó không sửa chữa được hoặc việc hoàn trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp không thể được do tài sản đó bị mất, bị hủy hoại, bị tiêu dùng… thì Tòa án buộc họ phải bồi thường các thiệt hại vật chất đã gây ra. Nếu là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì người phạm tội phải bồi thường những thiệt hại đó cho người bị hại như bồi thường mọi phí tổn và thu nhập bị giảm sút do tình trạng này gây ra cho người bị hại như: tiền thuốc men, tiền bồi dưỡng, tiền chi phí khác, tiền tàu xe, tiền chôn cất, và mức giảm sút về thu nhập của người không có sức lao động mà người bị hại khi còn sống có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Ngoài ra, BLHS Việt nam còn quy định trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, gây thiệt hại về tinh thần thì Tòa án có thể buộc tội người phạm tội công khai xin lỗi người bị hại.
 
    3. Bắt buộc chữa bệnh
 
    Bắt buộc chữa bệnh là một biện pháp tư pháp hình sự mới được quy định trong BLHS Việt Nam. Đây là một biện pháp cưỡng chế hình sự có tính chất y tế, được áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Việc tuyên một hình phạt hoặc bắt họ phải chấp hành một hình phạt đã tuyên sẽ không đạt được mục đích của hình phạt, vì vậy, Tòa án hoặc Viện kiểm sát sẽ quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với họ để bảo đảm họ được chữa trị, đồng thời bảo đảm mục đích phòng ngừa.
    Điều 43 BLHS quy định những trường hợp cụ thể Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể quyết định áp đụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất năng lực trách nhiệm hình sự thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với họ. Việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh do Viện kiểm sát quyết định trong giai đoạn điều tra hoặc Tòa án quyết định trong giai đoạn xét xử, thi hành án. Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác tới mức mất năng lực trách nhiệm hình sự thì Tòa án căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với người đang chấp hành hình phạt mà bị mất năng lực trách nhiệm hình sự thì Tòa án cũng căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y có thể quyết định đưa họ vào cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Nếu không có lý do khác để được miễn chấp hành hình phạt, thì sau khi khỏi bệnh người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt. Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù (Điều 44 BLHS).
 
    4. Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên
 
    Ngoài các biện pháp tư pháp được áp dụng chung như đã nêu trên, Điều 70 của BLHS còn quy định hai biện pháp tư pháp mang tính giáo dục - phòng ngừa áp dụng riêng đối với người chưa thành niên phạm tội, đó là: giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng. 
Biện pháp “giáo dục tại xã, phường, thị trấn” là một biện pháp mang tính khuyến khích, giáo dục cao. Biện pháp này không buộc người chưa thành niên phạm tội phải tách rời khỏi môi trường gia đình, bạn bè và xã hội mà ngược lại họ được giáo dục, uốn nắn trong môi trường bình thường nhằm hạn chế đến mức tối đa thái độ mặc cảm về tội lỗi và qua đó, động viên họ tự giác tu dưỡng, rèn luyện, sửa chữa lỗi lầm. 
    Biện pháp “đưa vào trường giáo dưỡng” là một biện pháp giáo dục nghiêm khắc hơn được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội nghiêm trọng hơn và nếu áp dụng biện pháp giáo dục tại cộng đồng thì khó có thể đạt được kết quả. Trong trường hợp Tòa án quyết định đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với họ, nhưng do tính chất của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần phải đưa người đó vào một cơ sở giáo dưỡng để học văn hóa, giáo dục hướng nghiệp, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý giáo dục của nhà trường trong thời hạn từ 01 đến 02 năm. 
Biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng khác về bản chất so với hình phạt tù có thời hạn, mặc dù biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng cũng hạn chế tự do, cách ly người phạm tội khỏi môi trường xã hội bình thường trong một thời gian nhất định theo quyết định của Tòa án, nhưng khác với hình phạt tù, biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng không để lại án tích và nội dung giáo dục, chế độ sinh hoạt của trường giáo dưỡng cũng hoàn toàn khác so với chế độ kỷ luật, chế độ giáo dục, cải tạo trong nhà tù. Trong trường hợp người chưa thành niên đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được một phần hai thời hạn nhưng có nhiều tiến bộ thì Tòa án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc thời hạn ở trường giáo dưỡng.
Phân tích những quy định về các biện pháp tư pháp trong BLHS cho thấy, về bản chất, các biện pháp này đều xuất phát từ lợi ích của người chưa thành niên và mục đích giáo dục là chính, phù hợp với nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên được đề cập tới trong các văn kiện quốc tế. Tuy nhiên, điểm bất cập rõ nhất có thể nhận thấy là chưa có sự nhất quán trong việc xác định tính chất của các biện pháp tư pháp. Điều này thể hiện ở chỗ, các biện pháp tư pháp áp dụng riêng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 70 của BLHS được xác định là biện pháp có tính giáo dục, phòng ngừa và nó có dáng dấp như một biện pháp mang tính “chế tài” đối với người vi phạm, còn các biện pháp tư pháp áp dụng chung quy định tại Chương VI của BLHS thì lại có tính chất khác, như là biện pháp xử lý vật chứng, giải quyết hậu quả của vụ án hoặc là biện pháp tạm dừng thủ tục tố tụng hay tạm dừng thi hành án.
    Mặt khác, phạm vi áp dụng của biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn còn hạn chế. Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng. Căn cứ theo độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 của BLHS) thì biện pháp này chỉ áp dụng được với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Như vậy, đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ áp dụng một biện pháp tư pháp là đưa vào trường giáo dưỡng. Trong khi đó, đây là độ tuổi nhận thức còn non nớt, hạn chế hơn so với độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Việc chỉ có một lựa chọn duy nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã bó hẹp về biện pháp và hiệu quả xử lý đối với đối tượng này.
    Xuất phát từ ý nghĩa và mục đích giáo dục như vậy, cho nên cần thay đổi tên gọi đối với 2 biện pháp tư pháp áp dụng riêng đối với người chưa thành niên để phù hợp hơn, phản ánh đúng bản chất của nó hơn. Đó là „biện pháp giáo dục - phòng ngừa“ để phân biệt với các biện pháp tư pháp quy định tại Chương VI của BLHS. 
Ngoài ra, để góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế về phạm vi và đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn như đã phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng, cần phải mở rộng phạm vi áp dụng của biện pháp này. Nếu xét khả năng nhận thức và sự phát triển tâm sinh lý theo lứa tuổi thì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có nhận thức còn non nớt, hạn chế hơn so với độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Nếu áp dụng các biện pháp cách ly khỏi môi trường sống để giáo dục các em trong môi trường đặc biệt thì sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển tâm sinh lý của các em. Do đó, cần tạo cơ hội để các em được hưởng sự giáo dục từ cộng đồng, vì chính gia đình, xã, phường, thị trấn là môi trường giáo dục tốt nhất, giúp người chưa thành niên tránh được tâm lý mặc cảm. Điều này phù hợp với quy định quốc tế về người chưa thành niên, theo đó, biện pháp tước tự do phải là biện pháp áp dụng cuối cùng và trong thời gian ngắn nhất. 
Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi cần phải có sự cân nhắc chặt chẽ vì tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội mà họ gây ra, đồng thời, phải dựa trên quan điểm giáo dục, giúp đỡ họ nhận thức được sai lầm và sửa chữa để trở thành công dân tốt. Trường hợp người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ có thể cân nhắc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
 
Thảo Linh
 
;
.