Thực trạng và một số kiến nghị trong thực hiện thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
(BNCTW) - Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được Quốc hội ban hành có hiệu lực từ ngày 01-6-2006 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tạo ra chuyển biến tích cực trong nhận thức về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân trong lao động, sản xuất và đời sống, thu được những kết quả đáng khích lệ về tiết kiệm trong một số lĩnh vực.
Việc quản lý, sử dụng kinh phí hoạt động của các cơ quan, đơn vị đã gắn kết hơn với các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí từ khâu lập dự toán đến chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước. Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập đã thực hiện cơ chế tự chủ trong quản lý tài chính để chủ động sử dụng kinh phí, biên chế, qua đó kinh phí được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hơn. Các biện pháp tiết kiệm từ khâu thẩm định dự toán, tổ chức đấu thầu, quyết toán công trình được thực hiện đã góp phần nâng cao kỷ luật tài chính trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư của nhà nước. Công tác kiểm soát thanh, quyết toán vốn đầu tư được tăng cường và cải tiến phương thức, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí quản lý cho chủ đầu tư. Việc quản lý, sử dụng đất đai đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhìn chung, các địa phương đã đẩy nhanh tiến độ xây dựng quy hoạch sử dụng đất nên đã góp phần khắc phục tình trạng đất bị bỏ hoang và có kế hoạch sử dụng hiệu quả hơn đối với các khu đất trống, chưa sử dụng nhằm khai thác nguồn thu từ quỹ đất; nhiều địa phương đã nghiêm túc thực hiện rà soát, xử lý các trường hợp quy hoạch “treo” bằng các giải pháp kêu gọi dự án đầu tư. Việc quản lý, sử dụng trụ sở làm việc cơ bản đã thực hiện đúng mục đích và định mức, tiêu chuẩn. Các Bộ, ngành, địa phương đã chủ động rà soát tình hình sử dụng trụ sở làm việc, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước để sắp xếp, bố trí lại cho phù hợp. Việc tuyển dụng cán bộ, công chức thực hiện khá nghiêm túc và dần đi vào nề nếp; các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp chủ động rà soát chức năng, nhiệm vụ và biên chế để bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức phù hợp hơn với yêu cầu công việc, thực hiện cải cách hành chính, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cả về kinh phí và biên chế của cơ quan quản lý nhà nước và thời gian, chi phí xã hội. Việc tăng cường quản lý các định mức liên quan đến chi phí sản xuất, đặc biệt là các chi phí gián tiếp để hạ giá thành sản phẩm đã được doanh nghiệp chủ động xây dựng; nhiều biện pháp tiết kiệm triệt để như cắt giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tăng cường quản lý định mức tiêu hao đã được thực hiện để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
| Ảnh minh họa |
Tuy nhiên, bên cạnh một số kết quả đã đạt được, tình trạng lãng phí chưa ngăn chặn được, vẫn xảy ra trên một số lĩnh vực:
- Trong quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước (NSNN) chi thường xuyên: Một số cơ quan, đơn vị, vẫn còn tình trạng chi vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc sử dụng kinh phí sai mục đích; không thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý, sử dụng kinh phí theo quy định của cơ quan có thẩm quyền dẫn đến lãng phí hoặc sử dụng không hiệu quả kinh phí NSNN được giao làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, làm giảm hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước. Từ 2006-2010, các đơn vị ngành Tài chính thực hiện 32.933 cuộc thanh tra, kiểm tra, tập trung vào công tác điều hành, quản lý và sử dụng kinh phí NSNN tại các cơ quan, đơn vị, địa phương. Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện và kiến nghị xử lý tài chính 18.473 tỷ đồng, trong đó: thu hồi nộp NSNN 15.037 tỷ đồng; xử phạt hành chính 1.037 tỷ đồng; xử lý tài chính khác 2.398 tỷ đồng. Từ 2006 đến tháng 7-2012, hệ thống kho bạc nhà nước đã thực hiện kiểm soát và phát hiện trên 219.000 khoản chi của hơn 96.443 lượt đơn vị chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định và đã yêu cầu đơn vị bổ sung các thủ tục cần thiết, đã từ chối chưa thanh toán với số tiền khoảng 2.086 tỷ đồng.
- Trong quản lý đầu tư xây dựng các dự án sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước: Việc quản lý và triển khai thực hiện các dự án đầu tư trong những năm qua còn nhiều hạn chế, yếu kém, thất thoát, lãng phí xảy ra ở hầu hết các giai đoạn của quá trình đầu tư, dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp. Trong năm 2010, cả nước có 3.386 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,78% số dự án thực hiện trong kỳ; số dự án phải điều chỉnh chiếm 15,14% (5.239/34.607); số dự án vi phạm quy định về quản lý đầu tư là 221 dự án, chiếm 0,63% (vi phạm về thủ tục đầu tư 112 dự án, vi phạm về quản lý chất lượng 109 dự án) (tổng hợp kết quả kiểm toán năm 2011). Kết quả kiểm toán 8 tháng đầu năm 2012 cho thấy hầu hết các dự án đầu tư được kiểm toán đều có sai phạm trong công tác đấu thầu, thẩm định, phê duyệt dự án, nghiệm thu khống, nghiệm thu sai khối lượng, đơn giá, quyết toán thừa cho nhà thầu.
- Trong quản lý, sử dụng đất, trụ sở làm việc, nhà công vụ: Còn tình trạng sử dụng nhà đất không đúng mục đích, bị lấn chiếm hoặc để hoang hóa, khai thác không hết công năng hoặc sai mục đích. Một số nơi buông lỏng quản lý dẫn đến tình trạng giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng, để lãng phí. Tình trạng giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất sai quy định, không đúng đối tượng, không đúng thẩm quyền dẫn đến khiếu kiện đông người vẫn còn xảy ra. Quy hoạch “treo” vẫn còn ở nhiều địa phương gây lãng phí lớn nhưng chậm được khắc phục.
- Trong quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước: Đội ngũ cán bộ công chức có nơi chất lượng chưa cao, hiệu quả quản lý, sử dụng chưa đạt yêu cầu. Vẫn còn không ít cơ quan, tổ chức chưa có quy chế nội bộ về quản lý thời gian lao động, sắp xếp công việc thiếu khoa học, hợp lý dẫn đến hiệu quả sử dụng thời gian lao động thấp; việc tuyển dụng, bố trí lao động có nơi, có lúc chưa thực sự căn cứ vào nhu cầu công việc.
- Trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp: Còn không ít doanh nghiệp chưa ý thức được việc cần thiết phải áp dụng những biện pháp tiết kiệm để giảm chi phí sản xuất, kinh doanh nên hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp. Trong quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước vẫn còn sơ hở, sử dụng vốn kém hiệu quả, một số doanh nghiệp thực hiện đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh trong khi năng lực quản lý, trình độ quản trị doanh nghiệp và khả năng tài chính có hạn để thua lỗ kéo dài. Trong 6 tháng đầu năm 2012 thực hiện tiết giảm chi phí được 4.433 tỷ đồng trên tổng số hơn 12.548 tỷ đồng đã đăng ký, đạt 35.22% (Báo cáo số 242/BC-CP ngày 21-9-2012). Năm 2011, một số doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu thua lỗ lớn (Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xăng dầu quân đội) hoặc có lãi nhưng hiệu quả chưa cao (Tổng công ty CP Xây lắp dầu khí); một số doanh nghiệp sử dụng đất kém hiệu quả (Tổng công ty CN Sài Gòn, Tổng công ty Văn hóa Sài Gòn, Tổng công ty Xăng dầu quân đội, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam);… (Báo cáo số 1256/BC-KTNN ngày 05-9-2012).
- Trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân: cùng với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, ý thức tiết kiệm trong sản xuất, tiêu dùng của nhân dân đã dần được nâng lên; song việc tổ chức lễ hội và các hoạt động khác có sử dụng nguồn lực đóng góp của cộng đồng tình trạng lãng phí vẫn còn diễn ra.
Như vậy, trong quá trình triển khai thực hiện Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, các kết quả về tiết kiệm đã rõ nét nhưng tình trạng lãng phí vẫn chưa ngăn chặn được. Nguyên nhân của tình trạng này là:
- Thứ nhất, ý thức trách nhiệm, sự quyết tâm của không ít cơ quan, tổ chức và cá nhân chưa cao; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có lúc, có nơi còn hình thức, chiếu lệ; chống lãng phí chưa được xác định là khâu trọng tâm, then chốt để có giải pháp quyết liệt nên hiệu quả phòng, chống lãng phí không đáp ứng được yêu cầu. Một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự tự giác trong việc xây dựng các giải pháp để triển khai việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong lĩnh vực, phạm vi được giao quản lý. Trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có nơi, có lúc chưa được đề cao. Công tác giám sát của các cơ quan dân cử, của các tổ chức xã hội và hiệp hội nghề nghiệp, nhất là giám sát của nhân dân chưa được phát huy, hiệu quả thấp.
- Thứ hai, hệ thống định mức kinh tế, kỹ thuật và tiêu chuẩn, chế độ trong việc sử dụng vốn và tài sản nhà nước vẫn còn chưa sát với thực tế dẫn đến ý thức chấp hành còn hạn chế, thực hiện chưa nghiêm, gây lãng phí vốn và tài sản nhà nước trong nhiều lĩnh vực.
- Thứ ba, chưa có quy định cụ thể hành vi gây lãng phí, chưa có cơ chế, biện pháp hiệu quả trong triển khai thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, việc triển khai Luật vào cuộc sống còn hạn chế. Biện pháp triển khai thông qua Chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, mới chỉ mang tính dài hạn mà chưa đưa ra được các mục tiêu, chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá cụ thể. Các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại Luật hiện hành còn chung chung, dàn trải và trùng lắp, chưa bao quát thể hiện được rõ nội hàm về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực.
- Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại các cấp các ngành chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục, còn có biểu hiện né tránh, ngại đấu tranh, lên án các hành vi vi phạm gây lãng phí. Nhiều lãng phí, sai phạm đã được phát hiện nhưng chậm được xử lý; chưa kịp thời tuyên dương, khen thưởng người thực hiện tiết kiệm hoặc phát hiện lãng phí làm cho việc tuân thủ các quy định của pháp luật còn chưa nghiêm. Các quy định về thanh tra, kiểm tra, trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí còn chưa cụ thể nên làm hạn chế tính hiệu lực, hiệu quả trong triển khai Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
- Thứ năm, một số quy định của Luật chưa cập nhật với các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời gian qua. Kể từ khi Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ban hành và có hiệu lực (01-6-2006), Quốc hội đã ban hành nhiều Luật mới có liên quan, trong đó có 10 luật chuyên ngành được sửa đổi, bổ sung và 13 luật chuyên ngành được ban hành mới, đã làm cho các quy định trong Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trở nên khó triển khai thực hiện, phát sinh nhu cầu phải sửa đổi cho phù hợp để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Bên cạnh đó, một số các quy định của Luật còn chung chung, mang tính hình thức, chưa đưa ra được các giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cụ thể. Đồng thời, phạm vi điều chỉnh của Luật cũng chưa bao quát được hết một số lĩnh vực như quản lý sử dụng tài sản nhà nước; quản lý, sử dụng các loại tài nguyên; quản lý, sử dụng các quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, bảo đảm việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được thực hiện một cách thực sự, có hiệu quả, cần sửa đổi Luật thực hành, tiết kiệm, chống lãng phí đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Một là, quy định rõ nguyên tắc, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc ban hành định mức, tiêu chuẩn, chế độ; công khai và tổ chức thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ; căn cứ để kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cho phù hợp với tình hình và cơ chế chính sách hiện nay.
- Hai là, quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu nơi để xảy ra lãng phí; trách nhiệm trong công khai, xử lý thông tin phát hiện lãng phí, xử lý đối với người có thẩm quyền không xử lý các hành vi vi phạm Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
- Ba là, hoàn thiện các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong từng lĩnh vực cụ thể. Theo đó, nâng cao hơn nữa nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền quyết định và trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu trong việc quản lý, điều hành và sử dụng NSNN. Quản lý, sử dụng kinh phí nghiên cứu khoa học phải đổi mới phương thức bố trí kinh phí theo kết quả đầu ra; bổ sung quy định để tiếp tục triển khai thực hiện khoán kinh phí hoạt động, giao tự chủ tài chính cho các cơ quan, tổ chức một cách có hiệu quả, tự chủ về tài chính, biên chế. Làm rõ trách nhiệm và phương thức sử dụng tài nguyên hiệu quả. Việc tuyển dụng, sử dụng lao động phải căn cứ vào yêu cầu công việc, vị trí việc làm; có cơ chế khuyến khích để toàn dân thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
- Bốn là, quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong việc triển khai, tổ chức, chỉ đạo việc thanh tra, kiểm toán việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; công khai kết quả thanh tra, kiểm toán về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân có quyền giám sát, phát hiện và phản ánh cho cơ quan có thẩm quyền về hành vi lãng phí, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước.
- Năm là, bổ sung các quy định về phát hiện lãng phí và xử lý thông tin phát hiện lãng phí trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; có quy định về việc khen thưởng kịp thời tổ chức, cá nhân phát hiện thông tin lãng phí có giá trị, có biện pháp bảo vệ người cung cấp thông tin lãng phí; đồng thời, có quy định để loại trừ các trường hợp lợi dụng để gây mâu thuẫn nội bộ, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức.
Phương Thảo
(Ban Nội chính Trung ương)