Hình phạt trục xuất trong Bộ luật hình sự năm 1999
Thứ Hai, 23/12/2013, 08:54 [GMT+7]
Trục xuất là hình phạt buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam (Điều 32 Bộ luật hình sự). Đây là một hình phạt mới được bổ sung vào hệ thống các hình phạt của Bộ luật hình sự năm 1999 trong điều kiện Nhà nước ta đang chủ trương mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, số lượng người nước ngoài vào Việt Nam làm ăn, du lịch, công tác ngày càng nhiều và trong đó có một số người đã phạm tội ở Việt Nam.
Theo kết quả khảo sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam do Ủy ban Quốc phòng an ninh của Quốc hội thực hiện, từ năm 2001 đến nay, tình hình người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại các địa phương ngày càng tăng, trung bình hàng năm tăng từ 20% đến 30%. Tính đến hết tháng 6-2013 đã có 22.791.327 lượt người nước ngoài vào Việt Nam. Với số lượng lớn người nước ngoài hiện diện ở Việt Nam như vậy, việc quản lý và kiểm soát các hành vi trái pháp luật của người nước ngoài ngày càng trở nên phức tạp và đòi hỏi các cơ quan chức năng phải thực sự có trách nhiệm và tăng cường trong việc phát hiện và xử lý tội phạm.
Tuy nhiên, do tính chất phức tạp và nhạy cảm của việc xử lý các trường hợp người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, Nhà nước ta chủ yếu xử lý các trường hợp này thông qua con đường ngoại giao theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia nên hình phạt trục xuất được quy định trong luật hình sự vừa phải bảo đảm tính nghiêm khắc nhưng cũng phải linh hoạt trong xử lý để bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia. Do vậy, việc bổ sung hình phạt trục xuất vào Bộ luật hình sự năm 1999 với tính chất vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung sẽ tạo điều kiện để xử lý người nước ngoài phạm tội một cách linh hoạt. Điều này thể hiện ở chỗ, khác với các hình phạt chính khác, đối với hình phạt trục xuất, Bộ luật hình sự không quy định cụ thể các điều kiện áp dụng hình phạt này cũng như không quy định trường hợp nào thì áp dụng với tư cách là hình phạt chính, trường hợp nào thì áp dụng với tư cách là hình phạt bổ sung. Hình phạt này có thể áp dụng đối với người nước ngoài phạm bất kỳ tội nào được quy định trong Bộ luật hình sự. Tùy từng trường hợp cụ thể, trên cơ sở cân nhắc tất cả các tình tiết của vụ án, nếu thấy áp dụng trục xuất là cần thiết, có thể đạt được mục đích của hình phạt, Tòa án sẽ áp dụng trục xuất đối với người nước ngoài phạm tội.
Tuy nhiên, trong phần Các tội phạm của Bộ luật hình sự thì tất cả các điều luật đều không quy định hình phạt trục xuất là một trong các chế tài hình sự đối với hành vi phạm tội cụ thể đó. Do vậy, khi người nước ngoài thực hiện một trong các hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự thì không thể áp dụng hình phạt trục xuất đối với họ được, mặc dù trục xuất vẫn được quy định là một trong những hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong hệ thống hình phạt của Việt Nam. Như vậy, quy định này của Bộ luật hình sự vừa không phù hợp với thực tiễn lập pháp hình sự vừa không bảo đảm tính khả thi khi hình phạt trục xuất chỉ là quy định trên văn bản mà không đi vào thực tiễn cuộc sống.
Liên quan đến vấn đề này, có quan điểm cho rằng, vì Điều 28 Bộ luật hình sự quy định trục xuất là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung khi không áp dụng là hình phạt chính và với đặc trưng là chỉ áp dụng đối với người nước ngoài, nên về mặt nguyên tắc, nếu cần phải quy định tại từng điều luật cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự cũng rất khó có thể xác định tội nào người nước ngoài phạm phải sẽ cần áp dụng hình phạt trục xuất, tội nào thì không, và như vậy, nếu quy định tại các điều luật cụ thể thì phải quy định vào hầu hết các điều luật của phần này, ngoại trừ Điều 78 Bộ luật hình sự (tội phản bội Tổ quốc). Điều này không bảo đảm tính linh hoạt, mềm dẻo trong chính sách đối ngoại, phần nào gây bất lợi về mặt chính trị, quan hệ ngoại giao.
Mặc dù việc quy định hình phạt trục xuất vào từng điều luật cụ thể sẽ gặp phải một số khó khăn, vướng mắc như đã nêu. Tuy nhiên, việc quy định hình phạt trục xuất tại phần chung của Bộ luật hình sự mà không đề cập tới trong phần các tội phạm cụ thể là không phù hợp, không bảo đảm tính minh bạch của quy định này. Đây là một trong những hạn chế lớn nhất của các văn bản pháp luật nói chung và của Bộ luật hình sự nói riêng.
Bên cạnh đó, Điều 32 Bộ luật hình sự quy định "trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Như vậy, theo quy định này thì việc thi hành hình phạt trục xuất sẽ hoàn thành khi người nước ngoài bị kết án rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, những quy định về xóa án tích của Bộ luật hình sự (từ Điều 63 đến Điều 65 Bộ luật hình sự) lại không quy định việc xóa án tích trong trường hợp người phạm tội bị kết án trục xuất.
Ngoài ra, liên quan đến thời hạn trục xuất, có một vấn đề đặt ra là sau khi người nước ngoài bị kết án đã bị trục xuất ra khỏi lãnh thổ Việt Nam thì họ có được phép nhập cảnh trở lại Việt Nam ngay hay không? hay phải sau một thời gian nhất định, người đó mới được phép nhập cảnh lại? Vấn đề này vẫn chưa được quy định rõ trong Bộ luật hình sự.
Do vậy, để hoàn thiện quy định về hình phạt trục xuất trong Bộ luật hình sự năm 1999, xin đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến hình phạt trục xuất như sau:
Thứ nhất, tại phần chung của Bộ luật hình sự, cần nghiên cứu để quy định cụ thể điều kiện áp dụng hình phạt trục xuất khi trục xuất là hình phạt chính, như điều kiện về độ tuổi (chỉ áp dụng đối với người phạm tội từ đủ 18 tuổi trở lên); điều kiện về loại tội (chỉ áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng do vô ý). Đối với hình phạt trục xuất áp dụng là hình phạt bổ sung thì cũng cần bảo đảm điều kiện về độ tuổi (chỉ áp dụng đối với người phạm tội từ đủ 18 tuổi trở lên); điều kiện về loại tội (chỉ áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và các tội xâm phạm an ninh quốc gia).
Thứ hai, tại phần Các tội phạm của Bộ luật hình sự, căn cứ vào điều kiện quy định tại phần chung Bộ luật hình sự (như đề xuất ở trên) để quy định hình phạt trục xuất là hình phạt chính đối với từng điều luật cụ thể. Theo đó, đối với nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia tại Chương XI Bộ luật hình sự thì cần nghiên cứu bổ sung thêm nội dung “người phạm tội quy định tại chương này còn có thể bị trục xuất, tước một số quyền công dân…” tại Điều 92 Bộ luật hình sự. Đồng thời, cần rà soát các điều luật tại phần các tội phạm của Bộ luật hình sự để bổ sung hình phạt trục xuất là hình phạt bổ sung có thể áp dụng đối với những người phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ ba, cần nghiên cứu bổ sung quy định về xóa án tích đối với người bị kết án phạt trục xuất.
Thứ tư, liên quan đến việc thi hành xong hình phạt trục xuất, có một vấn đề đặt ra là sau khi người nước ngoài bị kết án đã bị trục xuất ra khỏi lãnh thổ Việt Nam thì họ có được phép nhập cảnh trở lại Việt Nam ngay hay không? hay phải sau một thời gian nhất định, người đó mới được phép nhập cảnh lại? Vấn đề này vẫn chưa được quy định rõ trong Bộ luật hình sự. Nếu họ không được nhập cảnh trở lại Việt Nam sau một khoảng thời gian nhất định thì có thể nghiên cứu theo hướng: một là, nghiên cứu khả năng mở rộng nội hàm của hình phạt trục xuất để bao quát được cả nội dung cấm nhập cảnh; hai là, bổ sung thêm hình phạt "cấm nhập cảnh vào Việt Nam" để áp dụng cùng với hình phạt trục xuất; ba là, nghiên cứu sửa đổi Điều 37 của Bộ luật hình sự về hình phạt bổ sung cấm cư trú theo hướng mở rộng nội hàm của hình phạt này để áp dụng đối với cả người nước ngoài phạm tội.
Thảo Trang
;