Vận động hành lang (Lobby) ở Canada và liên hệ tại Việt Nam
3. Quá trình ban hành chính sách ở Việt Nam (1) và mối liên hệ với nhu cầu, khả năng, điều kiện về vận động hành lang.
Để trả lời câu hỏi có thể vận dụng kinh nghiệm vận động hành lang của Canada vào quá trình hoạch định chính sách ở Việt Nam hay không, trước hết cần hiểu rõ các hoạt động nghiên cứu, đề xuất, xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật ở Việt Nam cả từ phương diện pháp lý và thực tiễn như sau:
Thứ nhất, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (gọi tắt là Luật) quy định tương đối đầy đủ về nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật, theo đó, một trong những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là “Bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước”(2). Tùy thuộc vào từng loại hình văn bản(3), Luật còn quy định nội dung; trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản; chủ thể có quyền đề nghị, kiến nghị xây dựng, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét, cho ý kiến, thông qua văn bản…
Thứ hai, việc tham vấn ý kiến doanh nghiệp, người dân và xã hội là một trong những yêu cầu bắt buộc của quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đối với mỗi loại hình văn bản được xây dựng, ban hành, Luật đều có quy định về việc tham gia góp ý kiến đối với dự thảo văn bản; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Việc lấy ý kiến có thể bằng hình thức lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo để góp ý, tổ chức hội thảo, thông qua Trang thông tin điện tử của Chính phủ, của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng…
Thứ ba, trong mỗi văn bản quy phạm luật đều có quy định về chính sách của Nhà nước đối với lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đó. Ví dụ, Luật giáo dục đại học có quy định chính sách của Nhà nước về phát triển giáo dục đại học(4); Luật giám định tư pháp quy định chính sách của Nhà nước đối với hoạt động giám định tư pháp(5)... Ngoài ra, còn có các văn bản dưới luật quy định từng chính sách cụ thể của Nhà nước. Ví dụ, Nghị định số 67/2010/NĐ-CP ngày 15-6-2010 của Chính phủ quy định về chế độ, chính sách đối với cán bộ không đủ tuổi tái cử, tái bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; Quyết định số 12/2013/QĐ-TTg ngày 24-01-2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn...
Như vậy, với các quy định nói trên, người dân hoàn toàn có thể biết được ai là người có thẩm quyền xây dựng chính sách, pháp luật ở Việt Nam; ai là người có quyền tham gia vào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật; tham gia ở mức độ nào, hình thức nào, giai đoạn nào của quá trình; các chính sách cơ bản thể hiện trong mỗi văn bản quy phạm pháp luật là gì... Nói cách khác, các yếu tố tiền đề của vận động hành lang về cơ bản đã được hình thành ở Việt Nam.
![]() |
| Đoàn công tác Ban Nội chính Trung ương nghiên cứu, trao đổi công tác phòng, chống tham nhũng tại Canada |
Tuy nhiên, so với các quốc gia có hoạt động vận động hành lang phát triển, trong đó có Canada, sự khác biệt về cách thức, quy trình xây dựng chính sách, pháp luật ở Việt Nam có thể dẫn đến sự khác biệt về nhu cầu, khả năng và điều kiện vận động hành lang. Cụ thể là:
Thứ nhất, các văn bản luật của Việt Nam thường có phạm vi điều chỉnh rộng, áp dụng với nhiều đối tượng. Lý do là vì luật Việt Nam thường được xây dựng theo tư duy tên gọi của văn bản, nội dung văn bản phải đáp ứng các yêu cầu của tên gọi, tên gọi văn bản phải ở mức khái quát cao, có nội hàm rộng, dẫn đến luật Việt Nam thường khá “đồ sộ”. Nói cách khác, luật Việt Nam thường có quy mô lớn, đề cập đến nhiều vấn đề, sử dụng nhiều công cụ pháp lý, liên quan đến lợi ích của nhiều nhóm đối tượng trong xã hội. Điều này cũng có nghĩa là nhu cầu vận động hành lang đối với mỗi văn bản luật ở Việt Nam sẽ đa dạng hơn so với ở các nước duy trì cách thức xây dựng các đạo luật nhỏ, có phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng hẹp, đề cập đến một vấn đề cụ thể.
Ngoài ra, với cách thức xây dựng luật ở Việt Nam như trên, khi thực tế gặp các vấn đề mới phát sinh, cần giải quyết thì người ta áp dụng mô hình nghị định “không đầu” hoặc thông tư “không đầu”. So với quy trình xây dựng, ban hành luật, pháp lệnh thì Quy trình xây dựng, ban hành nghị định, thông tư đơn giản hơn nhiều, đặc biệt là thông tư. Theo quy định hiện hành thì trách nhiệm soạn thảo thông tư thuộc về một đơn vị trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; trách nhiệm
thẩm định dự thảo văn bản thuộc về tổ chức pháp chế của cơ quan(6); quy định về tham gia ý kiến của các tổ chức, cá nhân sơ sài, thiếu sự giám sát của các cơ quan ngoài. Chính vì điều này mà có không ít thông tư chất lượng không cao, không khả thi, không hợp lý, thậm chí còn trái luật, nhưng do nó lại có giá trị trực tiếp điều chỉnh những vấn đề mới nảy sinh trong phạm vi một ngành, lĩnh vực, nên thường được các đối tượng điều chỉnh đặc biệt quan tâm. Điều này cũng có nghĩa là khả năng gia tăng nhu cầu vận động hành lang đối với loại văn bản này là điều khó tránh khỏi. Dự báo này rất cần được cân nhắc khi hoạt động vận động hành lang được chính thức hóa ở Việt Nam.
Thứ hai, thông thường, quá trình xây dựng chính sách, pháp luật phải gồm hai bước: nghiên cứu chính sách và chắp bút văn bản, trong đó nghiên cứu chính sách sẽ trả lời câu hỏi Nhà nước dự định ban hành chính sách mới với mục đích gì, còn chắp bút văn bản là việc chuyển thể các chính sách đó thành ngôn ngữ pháp lý trong các văn bản quy phạm cụ thể. Tuy nhiên, hiện tại, hai bước trên được nhập lại thành một khâu soạn thảo văn bản. Từ đây dẫn đến tình trạng là cơ quan soạn thảo vừa nghiên cứu chính sách vừa chuyển chính sách thành ngôn ngữ pháp lý. Văn bản chứa ngôn ngữ pháp lý sẽ được tham vấn ý kiến của người dân và xã hội. Người dân, doanh nghiệp và thậm chí nhiều chuyên gia (không phải là chuyên gia pháp lý) sẽ gặp không ít khó khăn trong việc đọc, hiểu các văn bản pháp luật đó, dẫn đến việc góp ý chính sách trở nên ít hiệu quả. Ngoài ra, với cách thức soạn thảo văn bản như trên thì các ý kiến nhận được phần lớn là góp ý câu chữ của văn bản chứ không phải góp ý về tư tưởng chỉ đạo, nội dung của chính sách.
Thứ ba, mặc dù tham vấn ý kiến doanh nghiệp, người dân và xã hội là một trong những yêu cầu bắt buộc của quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, song mức độ yêu cầu cũng không đồng đều giữa các văn bản. Đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, dự thảo nghị định thì cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến cơ quan, tổ chức hữu quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến(7), nhưng yêu cầu đó lại không được quy định đối với dự thảo thông tư. Hình thức phổ biến để lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đăng tải dự thảo trên website của cơ quan ban hành, gửi văn bản, hoặc tổ chức hội thảo, tọa đàm, diễn đàn doanh nghiệp, trong khi ở các nước đã chính thức hóa hoạt động vận động hành lang, người vận động hành lang còn được phép tiếp xúc trực tiếp, gọi điện, viết thư, gửi thư điện tử… cho người có thẩm quyền ban hành chính sách.
Thứ tư, chủ thể đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh cũng có sự khác biệt. Theo pháp luật hiện hành “Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật quy định tại Điều 87 của Hiến pháp(8) gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; đại biểu Quốc hội gửi kiến nghị về luật, pháp lệnh đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội”. Mặc dù, pháp luật không cấm các tổ chức, cá nhân khác đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh, song cũng không quy định về trình tự, thủ tục đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh của các chủ thể này, trong khi tại Canada và nhiều nước khác thì đề xuất các sáng kiến lập pháp; đề nghị xây dựng, sửa đổi hoặc bãi bỏ các dự án luật, nghị quyết… đều thuộc phạm vi quyền hạn của người vận động hành lang và là một trong những mục đích hướng tới của hoạt động vận động hành lang. Ngoài ra, mặc dù pháp luật Việt Nam cũng đã quy định nội dung văn bản quy phạm pháp luật(9) nhưng chưa đầy đủ và rõ ràng. Cụ thể là chưa rõ văn bản cấp nào thì được quy định trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức, cá nhân; cấp nào thì được quy định điều kiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; trình tự, thủ tục xin cấp phép hoạt động... Những tranh cãi về nội dung này trong suốt thời qua được xem là một trong những rào cản cho quá trình hiện thực hóa hoạt động vận động hành lang.
Thứ năm, ngoài các quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là tương đối rõ ràng, minh bạch như đã kể trên, hiện còn nhiều hoạt động khác có ảnh hưởng lớn đến quyền lợi và nghĩa vụ của các nhóm đối tượng trong xã hội nhưng chưa được quy định cụ thể, tường minh và dễ tiếp cận, như quy định trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh các loại quy hoạch, kế hoạch, chương trình hoạt động của các cấp, các ngành; việc phê duyệt, cấp phép các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án áp dụng chế độ ưu đãi, đặc thù; việc thành lập mới, mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động của các cơ quan, tổ chức; việc sử dụng nguồn vốn ODA, nguồn tài trợ từ nước ngoài…). Sự mờ nhạt về mặt pháp lý đối với các hoạt động trên càng lớn thì cơ hội để “vận động ngầm” là môi trường của tiêu cực, tham nhũng càng phát triển.
4. Vận động hành lang ở Việt Nam(10) - nhìn từ góc độ thực tiễn
Mặc dù được không ít đại biểu Quốc hội, các học giả nghiên cứu về chính sách xã hội, và đại diện tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp khẳng định trong các diễn đàn chính thức rằng “Vận động hành lang là nhu cầu khách quan, là hiện tượng xã hội có từ lâu đời trong xã hội Việt Nam”(11), song so với Canada và các quốc gia có hoạt động vận động hành lang phát triển thì quá trình này ở Việt Nam mới chỉ là hình thành tự phát mà thôi. Điều này cũng được lý giải từ các khía cạnh nhu cầu, khả năng và điều kiện để vận động hành lang ở Việt Nam như sau:
4.1. Nhu cầu can thiệp, tác động vào chính sách
Thứ nhất, nhu cầu vận động chính sách của người dân Việt Nam nói chung, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp nói riêng chưa thực sự cao. Doanh nghiệp vẫn có thói quen coi Nhà nước là người quản lý và mình là người bị quản lý. Nhà nước ban hành chính sách thế nào thì doanh nghiệp chỉ có nghĩa vụ tuân thủ và làm theo mà chưa có suy nghĩ phổ biến rằng mình có thể can thiệp vào quá trình xây dựng chính sách đó.
Thứ hai, kể từ sau khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực, các doanh nghiệp bắt đầu được tham vấn chính sách, tuy nhiên họ vẫn còn khá bỡ ngỡ trong việc đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật do thiếu kiến thức và thiếu nguồn lực (bao gồm cả nhân lực và tài chính). Các đóng góp từ doanh nghiệp vào chính sách vẫn chưa mạnh và chưa thực chất, mới chỉ dừng ở mức góp ý thay đổi câu từ trong văn bản pháp luật chứ chưa tác động đến độ thay đổi được nội dung cơ bản của văn bản pháp luật hay chính sách dài hạn của Nhà nước. Một số hình thức tham gia tác động vào chính sách như tổ chức điều tra, khảo sát lấy ý kiến phản hồi về chính sách và thực thi chính sách của các doanh nghiệp, hay lấy ý kiến các doanh nghiệp về đánh giá năng lực canh tranh cấp tỉnh… cũng đã bắt đầu được triển khai.
Thứ ba, hầu hết các hiệp hội doanh nghiệp mới được thành lập và hoạt động trong một số năm trở lại đây. Một số hiệp hội hoạt động khá hiệu quả, đặc biệt trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu, như Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), Hiệp hội dệt may Việt Nam (Vitas), Hiệp hội thép Việt Nam (Vsa)... Họ tham gia vào quá trình lập chính sách liên quan đến ngành của mình, thậm chí đưa ra đề xuất chính sách, đề xuất văn bản, nhưng đa phần các hiệp hội khác hoạt động chưa hiệu quả.
Thứ tư, trong quá trình thị trường hóa nền kinh tế, không thể phủ nhận các mối quan hệ cá nhân sẵn có giữa một số doanh nghiệp, tập đoàn lớn với cán bộ công quyền. Tuy nhiên, thực tế cho thấy với quy trình xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật như đã nêu trên, mối quan hệ này hiếm khi ảnh hưởng đến mức độ thay đổi được nội dung các văn bản pháp luật, nhưng chúng lại được cho rằng có thể thay đổi được quá trình áp dụng pháp luật, như việc giành được các hợp đồng với Nhà nước, hoặc xin được cấp các loại giấy phép... Minh chứng cho nhận định trên là đã có một số công trình nghiên cứu chính thức về “lợi ích nhóm”, trong đó cho thấy có sự liên kết chặt chẽ giữa một số doanh nghiệp lớn và các quan chức cấp cao trong bộ máy nhà nước, không chỉ nhằm mục đích có được hợp đồng hoặc xin giấy phép mà còn từng bước tác động đến quá trình xây dựng chính sách(12).
Thứ năm, sự can thiệp vào chính sách đôi khi còn xuất phát từ các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ hoặc các cơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế, chính phủ các quốc gia khác ở Việt Nam, với hình thức tác động khá phong phú, như thông qua các báo cáo, các bản kiến nghị, diễn đàn hoặc thông qua các chương trình tài trợ, đào tạo. Các tổ chức này có ảnh hưởng khá lớn đến chính sách thương mại, kinh tế của Chính phủ Việt Nam và tập trung ở khâu xây dựng văn bản, nhiều hơn là khâu thực thi.
4.2. Vai trò cầu nối trong vận động chính sách
- Ở Việt Nam, tính đến thời điểm này, số người trực tiếp vận động hành lang có quy mô lớn là các công ty luật. Họ có mối quan hệ với các cá nhân trong cơ quan nhà nước, và cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp. Nhưng vai trò mới chỉ dừng lại ở khâu tác động vào quá trình thực thi, áp dụng pháp luật, giải quyết các sự vụ nhiều hơn là tác động vào khâu hoạch định chính sách.
- Ở Việt Nam, chưa có một doanh nghiệp hay một tổ chức nào tự nhận mình thực hiện dịch vụ vận động hành lang. Chỉ có một số tổ chức đại diện cho doanh nghiệp, hoặc các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức ODA thực hiện các hoạt động được gọi là “vận động chính sách”. Họ không quan tâm đến các vụ việc cụ thể mà quan tâm rất nhiều đến chính sách chung.
- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các Phòng thương mại và công nghiệp các nước thường quan tâm rất nhiều đến các chính sách thương mại, trong đó phần đáng kể là chính sách thương mại quốc tế. Chương trình vận động chính sách của các tổ chức này thường được thể hiện dưới các hình thức gửi bản kiến nghị, làm báo cáo kiến nghị, tổ chức hội thảo và mời các cơ quan nhà nước có liên quan đến dự. Ngoài ra, nhóm này còn sử dụng công cụ truyền thông một cách khá hiệu quả. VCCI đóng góp vào quá trình ban hành chính sách thông qua hai con đường: theo yêu cầu của cơ quan nhà nước và theo yêu cầu của VCCI. Cơ quan nhà nước khi soạn thảo văn bản có liên quan có nghĩa vụ gửi sang VCCI một bản dự thảo. VCCI sẽ chuyển cho doanh nghiệp, hiệp hội hoặc tự mình góp ý. Đối với nhiều dự thảo, nếu không có ý kiến góp ý của VCCI sẽ không được ban hành, vì đây là quy trình bắt buộc khi Việt Nam là thành viên của WTO. Bên cạnh đó, VCCI còn tự mình đặt ra các kế hoạch vận động chính sách. Trong đa số trường hợp, đó là các báo cáo khách quan nhằm chỉ cho Chính phủ Việt Nam thấy các vấn đề đang tồn tại trong nền kinh tế, từ đó đưa ra kiến nghị. Trong một số ít trường hợp, VCCI phối hợp với các tổ chức phi chính phủ khác, hoặc các tổ chức quốc tế lập các chương trình vận động chính sách cụ thể, nhằm đưa được những nội dung mong muốn vào trong chính sách. Ví dụ,vận động chính sách để Chính phủ Việt Nam tham gia “Sáng kiến minh bạch công nghiệp khai khoáng (EITI) hoặc tác động vào quá trình đàm phán “Đối tác xuyên Thái Bình Dương” (TPP)...
- Đại diện của các tổ chức quốc tế hoặc của chính phủ quốc gia khác thường được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ chính phủ nước ngoài và tổ chức quốc tế như Liên Hợp quốc (UN) về tài chính và nhân lực để tổ chức các chương trình tài trợ cho Chính phủ Việt Nam, trong đó có nhiều chương trình nhằm can thiệp vào chính sách. Nội dung vận động chính sách của nhóm này rộng hơn so với các nhóm trên, ngoài chủ đề quan trọng là thương mại, còn có các vấn đề môi trường, quyền con người, thể chế, khoa học công nghệ…
- Trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, hầu như chưa có nhân viên chuyên trách về vận động chính sách. Thông thường, người có tác động chính là giám đốc, người đứng đầu doanh nghiệp. Các cá nhân này có mối quan hệ trực tiếp từ trước hoặc tự thiết lập đối với các cá nhân trong bộ máy công quyền.
5. Kết luận và kiến nghị về chính thức hóa vận động hành lang ở Việt Nam
1. Nhu cầu vận động hành lang trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay là khách quan và đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam. Gần đây, xuất hiện nhiều cá nhân, tổ chức phi Nhà nước hoặc được tách ra từ Nhà nước nhận thấy cơ hội có thể tác động để thay đổi chính sách(13).
2. Tính chủ động trong quá trình tác động chính sách đó thể hiện rõ hơn. Lúc đầu quá trình tác động chỉ là thụ động, đó là khi Nhà nước hỏi thì mới tham gia ý kiến, trong quá trình góp ý, tham gia thì đẩy chính sách theo hướng mình mong muốn. Tiếp đến quá trình này được “nâng cấp” theo hướng không chỉ tự góp ý mà còn vận động nhiều người khác cùng góp ý như mình. Pháp luật cũng đã có một vài quy định điều chỉnh hình thức tác động này. Sau đó đã có những tổ chức, cá nhân biết cách chủ động đề xuất chính sách, tuy nhiên, hiện mảng này chưa được pháp luật điều chỉnh.
3. Phương tiện vận động hành lang cũng ngày càng đa dạng hơn, trong đó phương tiện được sử dụng để người dân, doanh nghiệp góp ý chính sách chủ yếu phụ thuộc vào quy định của Nhà nước như công văn, gửi thư, hội thảo, báo chí... Đối với hình thức chủ động tác động chính sách thì ngoài những hình thức trên còn có cả các cuộc họp gặp gỡ trao đổi trực tiếp (cả chính thức và không chính thức), qua điện thoại và có cả những trường hợp có dấu hiệu tiêu cực.
4. Như đã phân tích ở trên, Việt Nam hiện đã có một số quy định cho người dân, xã hội, doanh nghiệp góp ý vào quá trình xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật, tuy nhiên thời gian tới cần phải hoàn thiện hơn ở một số điểm sau:
Thứ nhất, pháp luật cần quy định rõ hơn yêu cầu về nội dung đối với mỗi loại văn bản, trong đó chú ý giới hạn chặt chẽ hơn về nội dung văn bản; trình tự, thủ tục ban hành đối với các thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, để có thể kiểm soát được nhu cầu vận động hành lang đối với loại văn bản này.
Thứ hai, cần bóc tách bước nghiên cứu chính sách với bước chắp bút văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình soạn thảo văn bản để trọng tâm của vận động chính sách là tinh thần, nội dung của chính sách hơn là câu chữ trong mỗi văn bản.
Thứ ba, tập trung việc đăng tải tất cả các dự thảo văn bản trên website vào một đầu mối để tiện cho việc người dân truy cập, tra cứu và đóng góp ý kiến.
Thứ tư, mở rộng phạm vi chủ thể có quyền đề xuất xây dựng, điều chỉnh, bãi bỏ chính sách, pháp luật, và quy định rõ trình tự, thủ tục đối với quá trình đó.
Thứ năm, quy định rõ ràng, đầy đủ, cụ thể hơn quy trình lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh các loại quy hoạch, kế hoạch, chương trình hoạt động của các cấp, các ngành; việc phê duyệt, cấp phép các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án áp dụng chế độ ưu đãi, đặc thù; việc thành lập mới, mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động của các cơ quan, tổ chức; việc sử dụng nguồn vốn ODA, nguồn tài trợ từ nước ngoài…
Thứ sáu, sớm nghiên cứu ban hành văn bản điều chỉnh hình thức chủ động vận động hành lang của các tổ chức, cá nhân, theo hướng sao cho tận dụng được các lợi thế của vận động hành lang, đó là giúp chính quyền biết được mối quan tâm, nguyện vọng của nhân dân, nhằm điều chỉnh chính sách cho phù hợp.
Thứ bảy, nguyên tắc quan trọng nhất rút ra được từ việc nghiên cứu pháp luật vận động hành lang của Canada là Nhà nước không cần can thiệp quá sâu vào hoạt động này bằng các quy định cấm đoán mà điều quan trọng là để mọi chủ thể được tự do vận động chính sách, nhưng cần được quy phạm hóa để kiểm soát và hướng nó tới mục đích phục vụ tích cực cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
|
(1) Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả không phân tích sâu khía cạnh học thuật của “chính sách”, “hoạch định chính sách” mà chủ yếu xem xét những biểu hiện cụ thể của hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật, gồm: nghiên cứu, đề xuất, xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật, và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật. (2) Xem thêm Điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. (3) Xem Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. (4) Xem thêm Điều 12 Luật giáo dục đại học. (5) Xem thêm Điều 5 Luật giám định tư pháp. (6) Xem thêm Điều 68 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. (7) Xem thêm Điều 35, 62 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. (8) Điều 87 Hiến pháp 1992 quy định: Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ,Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội. Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật ra trước Quốc hội. Thủ tục trình Quốc hội dự án luật, kiến nghị về luật do luật định… (9) Xem thêm Chương 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. (10) Một số tài liệu c.n gọi “vận động hành lang” là “vận động chính sách”. (11) Xem thêm Báo cáo tổng hợp kết quả thảo luận Hội thảo “Vận động chính sách - Thực tiễn và pháp luật”, do Ph.ng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Viện Tư vấn phát triển (CODE), Báo Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp tổ chức tại Hạ Long 7- 8/12/2007, trang 2; Hội thảo “Vận động hành lang: Thực tiễn và Pháp luật” do Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội phối hợp với Viện Nghiên cứu sinh thái và chính sách xã hội (SPERI) tổ chức tại Vạn Chài (Thanh Hoá),tháng 3-2007. (12) Xem thêm “Một số . kiến về “lợi ích nhóm” ở Việt Nam hiện nay” của PGS,TS. Nguyễn Văn Mạnh, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đăng trên Tạp chí Nội chính, số 01/6-2013; Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đề tài: “Mối quan hệ không bình thường của cán bộ, đảng viên có chức quyền với doanh nghiệp để trục lợi: Thực trạng và giải pháp phòng, chống thông qua công tác kiểm tra,giám sát của Đảng”, tổ chức tại Đà Nẵng, tháng 4-2013. (13) VCCI và một số hiệp hội lớn là những thiết chế được tách ra từ Nhà nước. |
ThS. Phạm Anh Tuấn, Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương
PGS, TS. Vũ Thu Hạnh, Phó Vụ trưởng, Ban Nội chính Trung ương
