Biện pháp phòng, chống tham nhũng trong xây dựng dưới triều Nguyễn
Đây là bộ luật cuối cùng của chế độ quân chủ ở Việt Nam. Mặc dù ra đời trong xã hội quân chủ nhưng “Hoàng Việt luật lệ” vẫn chứa đựng những yếu tố tích cực, mang tính nhân văn và để lại nhiều bài học, đặc biệt trong công tác PCTN hiện nay. Hoàng Việt luật lệ, bộ luật chính thống của triều Nguyễn ở Việt Nam do Vua Gia Long ban hành năm 1815, gồm 398 điều, chia làm 22 quyển. Các điều, khoản trong Bộ luật được chia làm sáu loại tương đương với công việc của sáu bộ phụ trách.
1. Quy định của triều đình về công tác xây dựng
Căn cứ vào chức năng được giao, Bộ Công (Bộ phụ trách về công tác xây dựng) lập kế hoạch, kinh phí các phương án thi công trên cơ sở từ các địa phương gửi về (trước tháng 12 hàng năm). Liên quan đến công trình xây dựng được quy định như sau:
Thứ nhất, phân định rõ chế độ trách nhiệm
Mọi công trường xây dựng, đều có sự phân công người chịu trách nhiệm trước Bộ và trước Vua. Căn cứ vào các giai đoạn triển khai và chế độ bảo hành, khi xảy ra các sự cố hoặc có vụ việc tiêu cực, các quan phải tấu trình rõ từng lý do, tự nhận trách nhiệm tùy theo chức vụ và tính chất, phần việc (mà chưa cần đến Hội đồng) để nhà Vua xem xét mức độ cầu thị và cho cách xử lý.
Thứ hai, thời hạn bảo hành được giám sát chặt chẽ
Để ngăn chặn việc rút ruột công trình, cũng như tránh tình trạng làm dối, làm ẩu, Bộ Công đã tham mưu và được Vua quy định thời hạn bảo hành như sau:
- Lăng tẩm, cầu, thành trì mới xây, thời gian bảo hành là 30 năm, nếu tu bổ bảo hành 20 năm.
- Miếu điện, lầu gác làm bằng gỗ tốt, lợp ngói tráng men, nề vôi đắp mới xây bảo hành 20 năm, nếu tu bổ bảo hành 15 năm.
- Phủ đệ, kho xưởng làm bằng gỗ, lợp ngói thường mới xây, bảo hành 15 năm, tu bổ bảo hành 10 năm.
- Cầu đường làm bằng gỗ mới bảo hành 5 năm, tu bổ bảo hành 3 năm...
- Quá trình chỉ huy công trình, nếu đạt chất lượng tốt thì quan phụ trách sẽ được thưởng, nếu có hư hại hoặc lấy bớt vật tư thì người đảm trách bị xử tội theo luật: “Phàm các công tác lớn và sửa đắp thành trì chỉ vạch đúng phép để đến nỗi không bền vững thì đều theo nặng nhẹ mà trị tội, nếu trong hạn bị sạt lở, hư hỏng thì bao nhiêu nhân công, vật liệu, tiền gạo cho vào việc ấy đều cử bắt viên phụ trách công việc trên phải đền”(1).
Thứ ba, hồ sơ quyết toán công trình phải bảo đảm đúng hạn
Trước khi nghiệm thu, các quan điều hành phải có bản cam đoan tính chính xác về sử dụng vật tư, kinh phí, sự bền vững của công trình theo đúng quy định. Hồ sơ nghiệm thu phải được tiến hành trước sự giám sát, ký chịu trách nhiệm của đại diện Bộ Công, Hồ Thành binh mã sứ và những Bộ liên quan. Hội đồng nghiệm thu có trách nhiệm xem xét toàn bộ thiết kế, bản khai của giám tu và chất lượng thực tế. Nếu sau này có những sai sót, gian dối thì các viên quan đã có tên phải chịu tội. Tất cả các công trình khi kết thúc phải kịp thời tổng kết số chi tiêu trong thời hạn 3 tháng để báo cáo. Những công trình có quy mô lớn hoặc liên quan đến các công đoạn phức tạp cũng chỉ được kéo dài thêm 2 tháng nữa (tức chỉ 5 tháng). Với cách làm này, khi nộp hồ sơ thì các quan sẽ rất khó có thời gian để gian lận sửa đổi, mạo sổ sách, phiếu chi để lấy tiền lương và trật tự.
Thứ tư, tạo điều kiện để cộng đồng giám sát
Nhà nước kêu gọi mọi quan, quân, thợ thuyền phải đưa tiết kiệm lên hàng đầu. Căn cứ vào yêu cầu trên, Bộ Công cùng Bộ Hình đặt ra quy chế giám sát cụ thể, tránh sự lãng phí, tham nhũng. Tất cả vật tư phải căn cứ vào công việc để xuất và trừ dần, nếu có dư thừa phải nhập kho, báo cáo sổ sách đầy đủ và có xác nhận của quan phụ trách và thợ. Năm Minh Mạng thứ 15 (1834), Vua có dụ: “Hàng ngày lo tiết kiệm, giảm phí, dẫu vật nhỏ mọn như đầu tra, mẫu gỗ cũng phải biết tiếc việc, dùng mảnh ngói, chiếc dùi phải cho đúng chỗ dùng, không được để bọn binh, thợ lại dịch từ trong làm bậy. Nếu xảy ra các tội làm giả dối hay dấu bớt thì khoa đạo, Bộ Công phải bất thần kiểm xét”(2). Khi đến Ngọ Môn, chính Vua Minh Mạng cũng đã khuyên răn: Dùng gạch vỡ làm móng tường của Ngọ Môn, nên giữ lại những viên gạch lành để xây thềm. Đó cũng là việc kiệm ước. Khi trùng tu Trấn Hải Thành, Vua đã có dụ cho Bộ Công: “Nếu ngu tối khước từ mọi sự hiểu biết rồi làm qua loa xong chuyện hoặc bớt xén để cho trong vòng 3 năm mà gạch đá, thành quách đỗ sụt, nứt nẻ, chỗ lỗi lòm thì Đỗ Hồng Quý, Trương Viết Soải và các viên quản vệ sẽ đều bị giao cho Bộ xét xử nghiêm khắc, đồng thời chiếu theo tên tuổi các y bắt bồi thường không khoan tha”(3). Nhà Vua thường xuyên khuyên các quan, nên thận trọng làm cho tròn nhiệm vụ, thường ngày phải luôn luôn gia công kê cứu kiểm soát để chấm dứt các thói sâu mọt đục khoét, xâm khuy, gian lận của bọn lại ty.
Thứ năm, công khai các công việc để dân chúng, thợ thuyền được biết
Nội dung công việc đều được công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho người dân giám sát dễ dàng. Nhà nước yêu cầu dân chúng, đặc biệt là binh lính thợ thuyền phải luôn quan tâm đến tài sản, vật tư của quốc gia. Khi triển khai xây dựng các công trình ở Kinh Thành và Hoàng Thành Huế, nhà Vua đã thị sát tại chỗ và kiểm tra các kho vật tư, đồng thời giao cho các quan ở Bộ Hình, Đô Sát Viện, các Khoa đạo phối hợp với Bộ Công cùng giám sát. Trên các công trường, các chỉ dụ của Vua về tội tham nhũng, cách xử tội, danh sách các quan vi phạm được niêm yết; công khai những thủ đoạn moi ruột công quỹ, biển thủ vật tư, từ đó mọi người cảnh giác và phát hiện. Về các biện pháp xử lý sai phạm, Triều Đình quy định: sai sót lần đầu, có thể xử châm chước, nếu sau còn mưu toan trộm cắp, đục khoét thì không thể dùng biện pháp cũ mà phải đem người đó ra “chém đầu bêu lên, nhất định không hòng được xử tội nhẹ nữa”. Để mọi người hiểu được lời dụ của Vua về hình phạt này, Nhà nước cấp cho các Nha môn ở Kinh Thành và Hộ thành binh mã, mỗi nơi một bản, treo dưới chỗ ngồi, để lúc nào cũng răn sửa không quên.
Khi xét xử những vụ án lớn và có tội bị chém, Triều Đình đều đem ra công khai giữa chợ để mọi người tố cáo, thấy cách xử tội. Khi phạm tội liên quan đến xây dựng thì đều bị mang gông bêu ở công trường để mọi người biết mặt. Cách làm này dù sao cũng là những hình ảnh trực quan có tác dụng răn đe mọi người đừng làm điều xấu. Thứ sáu, trách nhiệm phối hợp kiểm tra của các cơ quan trong PCTN Nhằm phát huy việc giám sát, phản ánh, trình báo kịp thời, Vua cho phép các thị thần khi thấy sự tham nhũng thì được tấu trình trực tiếp lên Vua: “Ngôn quan là tai mắt của Triều Đình. Từ hoàng thân, quốc thích cho đến trăm quan, nếu ai không giữ công bằng, pháp luật, ngôn quan đều được hặc tâu. Ta cho rằng, Vua có bề tôi nói thẳng cũng như cha có người con biết can, tưởng nên nói hết mọi điều, không giấu giếm để khỏi phụ trách nhiệm đã ủy thác”(4). Về thanh tra Bộ Công, do đây là Bộ có trách nhiệm lập các dự toán và quản lý nhiều loại tài liệu, vật tư và nhân công, để phòng ngừa các vụ tham nhũng xảy ra, nhà Vua yêu cầu kiểm tra định kỳ, đồng thời có những kiểm tra đột xuất do các cơ quan bên ngoài thực hiện nếu thấy ở đó có vấn đề không bình thường. Năm Minh Mạng thứ 8 (1827), triều đình định lệ khóa thanh tra công tác xây dựng ở Kinh đô Huế và các kho tàng, thời gian được thanh tra kể từ năm Gia Long thứ nhất (1802) đến cuối năm Minh Mạng thứ 7 (1826), bao gồm tất cả các chi phí vật tư, nhân công. Nhằm tránh tình trạng các thủ kho lâu ngày dễ biển thủ vật tư, tiền lương, kho quỹ, nhà Vua lệnh chế cấp “dấu kiềm hội đồng” (ấn triện bằng đồng khắc 6 chữ “Tứ nha hội đồng kiềm cái”) cho 4 Nha, Bộ Công, Bộ Hộ, Đô Sát Viện và Nội Vụ Phủ. Phàm 4 Nha kiểm soát xét nghiêm các của ở kho, thì dùng đóng vào chỗ số mục trong tờ phiếu, tờ tấu.
Để bảo đảm sự công minh trong giải quyết công việc, Nhà nước hạn chế việc các quan có quan hệ thông đồng với người thân nơi đang làm việc. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), Vua ban hành Luật Hồi tỵ nhằm nghiêm cấm các mối quan hệ trên một số lĩnh vực như việc thanh tra, xử án, chấm thi... Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), Vua bổ sung thêm một số điều của Luật xử án, đây là những yếu tố nhằm ngăn chặn các mối quan hệ đồng hương, bè cánh, gia đình, tránh tình trạng bao che, thông đồng để thực hiện những hành vi tham nhũng, hối lộ, cũng như ngăn ngừa những biểu hiện trù dập người tố cáo, hoặc cố ý làm sai lệch cán cân công lý. Bên cạnh đó, khắc phục tình trạng hà hiếp, ỷ thân, ỷ thế, nhũng nhiễu làm hại lương dân.
Thứ bảy, bố trí quan lại giữ các vị trí trong xây dựng và giữ của cải nhà nước
Đối với người tài, người có nhân cách, Vua Minh Mạng nói: Hiền tài là đồ dùng của Nhà nước, vì vậy rất muốn trong Triều có người tài giỏi, ngoài nội không sót người hiền, để tô điểm mưu to, vang lừng đức hóa. Dưới Triều Nguyễn những người tài giỏi đã được Triều Đình xem xét cẩn trọng để đưa vào bộ máy. Ai có năng lực chuyên môn đều được trọng dụng, cân nhắc, người yếu kém sẽ bị sa thải. Đây chính là những nguyên tắc mang lại hiệu quả trong việc chọn người điều hành quản lý và duy trì trật tự xã hội.
Trên lĩnh vực xây dựng, các quan phụ trách được bổ nhiệm hầu hết là những người có khả năng điều hành, có tư duy nghề nghiệp, nhờ đó mà tài năng và tên tuổi họ luôn đi cùng với những tác phẩm kiến trúc được các thế hệ ghi nhớ. Đối với những người giữ các chức vụ thủ kho, Nhà nước có quy chế 3 năm thay đổi một nơi để khỏi có sự thông đồng trong việc tham ô của cải.
2. Một số điều luật cụ thể quy định về xử phạt đối với tội tham nhũng
Điều 392 Bộ luật Hoàng Việt quy định: “Người nào dùng các thủ đoạn biển thủ, lấy trộm tiền lương, vật tư ở kho, mạo phá vật liệu mang về nhà. Nếu tang vật lên đến 40 lượng thì bị chém”. Điều 393 Bộ luật Hoàng Việt quy định: “Những người khi nhận được đút lót thì tính theo tang vật mà xử tội, tội chưa phát giác mà biết tự thú thì được miễn tội, tất cả các tang vật phải nộp lại cho Nhà nước”(5). Năm Gia Long thứ 5 (1806), nhà Vua quy định các thủ kho phải chịu trách nhiệm đề xuất các biện pháp quản lý bảo vệ. Nếu người coi kho và người bảo vệ biết được hành vi và thủ đoạn người lấy trộm và tố cáo thì được miễn tội. Nếu người bên ngoài phát hiện quả tang hành vi thì được thưởng gấp 10 lần giá trị tang vật. Nếu thủ kho và lính bắt được quả tang thì thưởng gấp 5 lần. Điều 394 Bộ luật Hoàng Việt quy định: “Những người phạm tội lúc trẻ, sau khi già về hưu mới phát hiện ra vụ việc, thì vẫn phải chịu trách nhiệm với hình thức luận tội như lúc trẻ, lúc đương chức. Nếu tuổi già và bệnh yếu thì có thể chiếu cố thay hình thức bằng trưng thu các loại tài sản nộp thế”.
3. Những bài học được rút ra từ các quy định trong xây dựng dưới triều Nguyễn
Kinh nghiệm người xưa có thể rút ra các điểm sau:
- Xây dựng cơ chế quản lý nhà nước chặt chẽ về quy trình, thủ tục trong xây dựng; hoàn thiện hệ thống pháp quy, tránh chồng chéo. Khi vụ việc xảy ra phải tập trung xử lý, đúng quy trình của luật, tránh tình trạng “đánh trống bỏ dùi” hoặc “xử lý nội bộ”. Cần tổ chức và giao trách nhiệm cho một cơ quan đủ thực quyền giám sát, theo dõi và xử lý nghiêm minh hành vi tham nhũng.
- Công khai các nguồn đầu tư, có cơ chế cụ thể, minh bạch trong phân bổ vốn, tránh trình trạng “chạy vốn”, “xin cho”, “mạnh ai nấy xin”, “giúp đỡ”... Tiến hành đấu thầu cạnh tranh và công bằng cho các thành phần kinh tế, tránh hiện tượng đấu thầu dạng “quân xanh”, “quân đỏ”.
- Công khai thông tin một cách thực chất (chứ không phải hô hào), để người dân giám sát đối với các cơ quan nhà nước, nhất là các dự án xây dựng, việc mua sắm, quản lý tài sản công, cấp phát vốn... Từ thông tin nắm được, mọi người được quyền chất vấn, yêu cầu và được cơ quan có trách nhiệm trả lời. Bởi hiện nay hầu hết các vụ việc tiêu cực thường do người trung thực hoặc báo chí phanh phui, còn nội bộ cơ quan, hoặc thanh tra rất ít khi phát hiện được. Bộ máy thanh tra, kiểm tra, giám sát phải sâu về chuyên môn, chịu trách nhiệm đối với công việc đã đảm nhận (trong quá trình tiến hành tra xét không tìm ra hoặc bỏ qua vụ việc, nếu lần sau bị phát hiện ra thì quy tội đợt thanh tra trước ngang tội như kẻ tham nhũng).
- Có cơ chế khuyến khích, động viên người tố cáo đúng, đây là việc làm cần thiết và phải có sự hợp lực bảo vệ, để họ không bị trù dập, ngăn chặn mọi yếu tố trả thù của kẻ tham nhũng và vây cánh.
- Việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ phải thực hiện đúng quy định. Phải đặt nguyên tắc người có chức vụ khi đề bạt phải vì yêu cầu của công việc, vì cái chung. Đổi mới các khâu công tác nhân sự, đây là mong mỏi của xã hội và phù hợp với xu thế của thời đại.
| (1) Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tục biên, Bản dịch của Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Viện Sử học, tập XI, tờ 12 a. (2) Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tục biên, Bản dịch của Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Viện Sử học. (3) Minh Mệnh, Ngự chế văn (dụ văn) - Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, H, 2000, tr.304. (4) Đại Nam thực lực tập XIV, tr.316. (5) Thự Hữu thị lang Bộ Công Bá Tý, lợi dụng chức tước mượn tiền công bị phát hiện, Vua Minh Mạng đã ra lệnh cách chức, đeo gông năng một tháng trên công trường để lính và thợ biết. Sau khi hết hạn đeo gông sẽ phạt đánh một trăm trượng. |
PGS, TS. Trần Thị Cúc
(Học viện Hành chính)