Nhận diện văn hóa Đảng

Thứ Tư, 06/02/2019, 06:54 [GMT+7]
    Đảng là bộ phận ưu tú nhất của dân tộc, vì vậy, văn hóa - với những giá trị tự thân của nó, cũng phải trở thành mục tiêu, động lực, sức mạnh nội sinh cho sự phát triển của Đảng. Văn hoá Đảng là một bộ phận của văn hoá dân tộc; là nơi hội tụ, kết tinh, biểu hiện tập trung nhất của văn hoá, trí tuệ dán tộc; là thước đo trình độ trưởng thành của Đảng và là nhân tố quan trọng quyết định năng lực lãnh đạo, khả năng cầm quyền của Đảng. Chính vì vậy, xây dựng văn hoá Đảng, để Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, là danh dự và lương tâm của dân tộc là trách nhiệm của mỗi tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên.
 
    Bối cảnh quốc tế và trong nước thời kỳ đổi mới đã và đang đặt Đảng ta đứng trước những vấn đề khó khăn, phức tạp. Không ít vấn đề lý luận và thực tiễn chưa đủ sáng tỏ; đổi mới và phát triển đã làm xuất hiện những mối quan hệ lớn đòi hỏi Đảng phải nắm vững và giải quyết... Trong tình hình ấy, nếu Đảng không thật sự kiên định, vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không gương mẫu, trong sạch về đạo đức, lối sống; không khoa học, chặt chẽ về tổ chức; không có cơ sở chinh trị - xã hội vững chắc, không được Nhân dân tin yêu, ủng hộ thì không thể giữ vững được vai trò lãnh đạo. Nhận thức rõ những vấn đề nêu trên, trong hơn 30 năm lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, cùng với những bước chuyển trong tư duy về đường lối phát triển kinh tế - xã hội, quan điểm của Đảng về công tác xây dựng Đảng cũng đã có những điểm bổ sung, phát triển quan trọng, trong đó, Đảng đặc biệt chú trọng xây dựng văn hoá trong Đảng, xem đây là nền tảng, là sức mạnh nội sinh bảo đảm cho việc thực hiện mục tiêu “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”.
 
    Văn hóa Đảng được hiểu là văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách một đảng cầm quyền - đội tiền phong của giai cấp công nhân, đảm trách sứ mệnh lịch sử lãnh đạo giai cấp và dân tộc thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Văn hóa thuộc về con người, của con người, do con người và mang chất người; là những giá trị Chân, Thiện, Mỹ do con người sáng tạo, gìn giữ lưu truyền, bồi đắp, phát huy nhằm hoàn thiện nhân cách. Do đó, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực, là sức mạnh nội sinh bảo đảm sự phát triển bền vững của dân tộc. Đảng là bộ phận ưu tú nhất của của dân tộc, vì vậy, văn hóa - với những giá trị tự thân của nó, cũng phải trở thành mục tiêu, động lực, sức mạnh nội sinh cho sự phát triển của Đảng. Văn hoá Đảng là một bộ phận của văn hoá dân tộc; là nơi hội tụ, kết tinh, biểu hiện tập trung nhất của văn hoá, trí tuệ dân tộc; là thước đo trình độ trưởng thành của Đảng và là nhân tố quan trọng quyết định năng lực lãnh đạo, khả năng cầm quyền cùa Đảng.
 
    Nhận thức được tầm quan trọng của văn hoá Đảng, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta nhiều lần đề cập đến vấn đề này và xem đây là “nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh". Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã khẳng định; Để xây dựng và phát triển văn háa trong xã hội, trước hết “phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước... Văn hóa đạo đức và lối sống lành mạnh phải được thể hiện trước hết trong mọi tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể, trong cán bộ, viên chức nhà nước, trong từng đảng viên”(1).
 
    Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước khẳng định: “Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(2), trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, tận tụy, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, gắn bó máu thịt với Nhân dân. Nhất quán quan điểm nêu trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định: “Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế. Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể, coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh(3). Trong đó, cần tập trung xây dựng văn hóa trong các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, trong hệ thống chính trị; đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng; xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm; xây dựng và thực hiện tốt các quy định để phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.
 
    Tuy nhiên, cho đến nay, bên cạnh những thành tựu, văn hóa trong Đảng vẫn còn nhiều hạn chế. Đáng chú ý là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, mất dân chủ, vô trách nhiệm trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang làm vẩn đục văn hóa trong Đảng, làm tổn hại uy tín, thanh danh của Đảng, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, làm phương hại tới năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đó chính là những biểu hiện suy thoái về văn hóa, sự yếu kém và thiếu hụt năng lực văn hóa, sự lệch chuẩn văn hóa của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Đây là vấn đề hệ trọng liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Vì vậy, định vị giá trị và tiếp tục xây dựng văn hoá trong Đảng là một trong những vấn đề cấp bách, nhằm góp phần xây dựng Đảng thực sự là một Đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh. Để thực hiện nhiệm vụ này, trước hết cần nhận diện rõ những vấn đề liên quan đến văn hoá Đảng.
 
    1. Định vị chuẩn giá trị văn hoá Đảng. Văn hoá chính trị có thẻ hiểu là bao gồm văn hoá lãnh đạo của Đảng, văn hoá quản lý của Nhà nước và văn hoá làm chủ của các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội và toàn thể Nhân dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội, do dó văn hoá Đảng phải được nhìn nhận với tư cách là trung tâm cùa văn hoá chính trị, lan tỏa và tác động đến các mặt của văn hoá chính trị. Sự phát triển của văn hoá Đảng xoay quanh hệ chuẩn giá trị Chân, Thiện, Mỹ. Tuy nhiên, biểu hiện của bộ chuẩn giá trị đó trong từng nội dung như thế nào thì đòi hỏi phải có sự định vị rõ ràng, vì đây là cơ sở để xây dựng văn hoá Đảng.
 
    Để định vị chuẩn giá trị văn hoá Đảng, trước hết phải xác định vị trí của Đảng trong hệ thống chính trị; vai trò, vị trí và mối quan hệ của tổ chức Đảng với các tổ chức trong hệ thống chính trị; các bộ phận hợp thành văn hoá Đảng; vai trò, sứ mệnh của Đảng đối với giai cấp và dân tộc; yêu cầu, mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng tổ chức và đạo đức... Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu văn hóa Đảng là biểu hiện rõ nhất của văn hoá chính trị, là văn hoá trong đời sống chính trị của Đảng. Vì vậy, chuẩn giá trị văn hoá Đảng chính là sự hiện diện của hệ giá trị Chân, Thiện, Mỹ trong quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, Đảng với Mặt trận và các đoàn thể, quan hệ giữa Đảng với Nhân dân; trong việc hoạch định và lãnh đạo thực hiện đường lối; trong nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng; trong tác phong, lề lối làm việc, cách ứng xử của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; trong ứng xử giữa cán bộ, đảng viên với nhau. Như vậy, xây dựng văn hóa trong Đảng là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo, bản lĩnh cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; hoàn thiện phương pháp, phong cách lãnh đạo; giữ gìn đạo đức cách mạng; giữ vững các nguyên tắc của Đảng...
 
    2. Tính cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối. Biểu hiện tập trung và sinh động nhất của văn hoá Đảng chính là văn hoá trong hoạch định và lãnh đạo tổ chức thực hiện đường lối. Năng lực lãnh đạo của Đảng trước hết thể hiện ở năng lực ban hành Nghị quyết, xác định nhiệm vụ chính trị. Đường lối không chỉ là hiện thân của trí tuệ, lương tâm, danh dự của Đảng, đại diện cho nguyện vọng chính đáng của Nhân dân lao động mà còn là sinh mệnh của Đảng, của dân tộc. Đường lối là thước đo năng lực lãnh đạo và trình độ phát triển của Đảng; cùng với những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, nó trở thành động lực trong xây dựng văn hoá Đảng. Trong  hoạch  định  đường  lối, Đảng phải luôn xác định rõ mục đích  thiêng  liêng  là  phục  vụ Nhân dân, vì lợi ích chính đáng của Nhân dân và Đảng không có lợi ích riêng nào khác. Tính cách mạng, khoa học và nhân văn của đường lối là biểu hiện của văn hoá Đảng, đồng thời là một trong những nhân tố quan trọng góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.
 
    Vì vậy, đường lối, Nghị quyết của Đảng phải được xây dựng trên quan điểm “vì dân”; phải phát huy dân chủ, tập trung được trí tuệ, sức mạnh tổng hợp của mọi đảng viên và cả hệ thống chính trị để đề ra nghị quyết lãnh đạo đúng đắn, khoa học, hợp lòng dân, có sức thuyết phục và khả thi. Mặt khác, việc hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối phải thể hiện quyết tâm chính trị, thái độ trách nhiệm của Đảng trước Nhân dân và dân tộc và tuyệt đối chịu tác động bởi chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, tiêu cực, tha hoá. Tất
cả quá trình trên phải được chi phối bởi quan điểm “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh”(4). Đó là biểu hiện của văn hoá Đảng.
 
    3. Tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Văn hoá Đảng được thể hiện trong văn hoá của từng cán bộ, đảng viên và các tổ chức Đảng. Vì vậy, muốn xây dựng văn hóa Đảng, trước hết phải thực hành văn hoá nêu gương trong mỗi cán bộ, đảng viên. Nêu gương là một trong những giá trị đạo đức  của nhân loại, là truyền thống đạo lý của dân tộc. Nêu gương có vai trò thuyết phục lòng người, dẫn dắt mọi người làm theo thông qua những giá trị tốt đẹp mà hành động của mỗi con người tạo ra. Đảng là người lãnh đạo cách mạng, cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của Nhân dân, do đó Đảng phải là người đi tiên phong, dẫn dắt dân tộc, nói trước, làm trước. Đảng  phải dùng sự gương mẫu để lãnh đạo cách mạng và xem đây là một phương thức lãnh đạo văn minh nhất. Bởi vậy, văn hoá nêu gương của cán bộ, đảng viên là nội dung cốt lõi trong xây dựng văn hoá chính trị nói chung và văn hoá Đảng nói riêng. 
 
    Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Đối với các dân tộc phương Đông thì “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(5), do đó, cán bộ, đảng viên “muốn hướng dẫn Nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(6).
 
    Người cũng đã nhiều lần căn dặn cán bộ, đảng viên: “Tự mình không trong sáng, không gương mẫu, tự mình đã hủ hoá thì không lãnh đạo được ai, không làm nên trò trống gì. Nếu tự mình đã cần kiệm, liêm chính, không tham danh vọng thì bất cứ thủ đoạn nào của kẻ địch cũng không thể mua chuộc và làm mình gục ngã”(7). Thực tế cho thấy, trong các phong trào cách mạng, ở đâu cán bộ, đảng viên gương mẫu đi đầu  thực  hiện đường lối, chính sách, trong lao động và sáng tạo thì ở đó phong trào phát triển mạnh mẽ, đạt hiệu quả cao; ở đâu cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, ở đó phong trào yếu kém, hiệu quả thấp.
 
    Để thực hành văn hoá nêu gương, trước hết bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, ham tiền tài, danh vọng, vô cảm trước khó khăn của quần chúng Nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Rèn luyện đạo đức, lối sống đối với cán bộ, đảng viên là một nhiệm vụ cơ bản đảm bảo cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.  Nhân cách, đạo đức, trí tuệ, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, sẽ là những biểu hiện thực tế sinh động, thuyết phục nhất đối với Nhân dân về sự chân chính và năng lực lãnh đạo của Đảng. Đây là một trong những nhân tố quan trọng nhất để củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng. Bên cạnh đó, nói đi đôi với làm cũng là một biểu hiện của văn hoá nêu gương. Sự thống nhất giữa lời nói và việc làm là yêu cầu khách quan của phẩm chất người cán bộ, đảng viên; là nguyên tắc cao nhất của phong cách nêu gương. Vì vậy, muốn thực hành văn hoá nêu gương, cán bộ, đảng viên phải luôn thực hiện “nói đi đôi với làm”. Nếu người cán bộ, đảng viên nói nhiều làm ít, nói mà không làm, hoặc “nói một đằng làm một nẻo”, thì nhất định sẽ mất uy tín và vai trò của sự nêu gương sẽ không thể phát huy được. Ngoài ra, để nêu gương,
cán bộ, đảng viên phải luôn tận tâm, tận lực, gương mẫu, phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, thể hiện rõ tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, “làm mực thước cho người ta bắt chước” trong mỗi hành động, việc làm của mình.
 
    4. Văn hóa ứng xử của cán bộ, đảng viên. Một trong những biểu hiện của văn hóa Đảng đó là văn hóa ứng xử của cán bộ, đảng viên. Trong thực tiễn chỉ đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng con người mới, trong đó văn hoá ứng xử giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Trong ứng xử với bản thân mình, mỗi cán bộ, đảng viên “phải: cần, niệm; cả quyết sửa lỗi mình...; vị công vong  tư;  không  hiếu  danh, không kiêu ngạo; nói thì phải làm; giữ chủ nghĩa cho vững...”. Có thể nói đây là bài học vỡ lòng về văn hoá ứng xử đối với bản thân của mỗi cán bộ, đảng viên. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bồi dưỡng phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư sẽ  làm cho con người vững vàng trước mọi thử thách, để “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”, nhưng cũng có thể “cúi đầu làm ngựa đám nhi đồng”.
 
    Trong mối quan hệ ứng xử với người, những người đảng viên cần xây dựng mối quan hệ phải thật sự là đồng chí, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, trên cơ sở tình yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, qua đó góp phần củng cố, phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống với nhau không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin”. Đó là phép ứng xử của tình yêu thương trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình  chân  thành,  nghiêm  túc giữa những người cùng lý tưởng, nó hoàn toàn xa lạ với thái độ “dĩ hoà vi quý”, “yêu nên tốt, ghét nên xấu”, bao che sai lầm khuyết điểm, càng xa lạ với tranh giành địa vị, quyền lợi hay sự phục tùng một chiều của cấp dưới đối với cấp trên. Trong ứng xử với công việc, cán bộ, đảng viên phải tận tâm, tận lực, “lời nói đi đôi với việc làm”, phải thực sự “chí công vô tư”, đặt công việc nước lên trên, lên trước việc tư, việc nhà; được giao nhiệm vụ thì phải quyết tâm làm cho kỳ được, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm...; việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm; việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh; việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không, nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm. Bên cạnh đó, trong ứng xử với công việc, mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng cho được tác phong quần chúng, mọi công việc đều từ Nhân dân, vì Nhân dân; phải sâu sát quần chúng, chú ý tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, quan tâm đến mọi mặt đời sống của quần chúng, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và sửa chữa khuyết điểm của mình.
 
    5.  Mối liên hệ mật thiết giữa đảng và nhân dân. Văn hoá Đảng còn được thể hiện ở mối liên hệ mật  thiết giữa Đảng và Nhân dân. Trong mối quan hệ đặc biệt này, Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người phục vụ Nhân dân, còn Nhân dân là chủ nhân của đất nước nhưng tự giác đồng tình với sự lãnh đạo của Đảng. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của Nhân dân. Để tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với dân, bản thân Đảng phải thực sự văn hoá; mọi đường lối, chủ trương của Đảng đều phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, được Nhân dân tham gia ý kiến và hướng tới chăm lo đời sống, lợi ích của Nhân dân; phải tiếp tục thực hiện phương châm “Đảng lãnh  đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và cơ chế “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, kịp thời loại bỏ những cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của Đảng... Làm được những điều đó là thể hiện Đảng có trách nhiệm với dân, dân tin Đảng và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân vì thế sẽ được củng cố, tăng cường. Đó cũng chính là xây dựng dựng văn hoá Đảng.
 
    Đảng là danh dự và lương tâm của dân tộc. Văn hóa Đảng là lương tâm và danh dự của mỗi tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên trước dân tộc và Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, hôm qua là vĩ đại có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Chính vì vậy, xây dựng văn hoá Đảng, để Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, là danh dự và lương tâm của dân tộc là trách nhiệm của mỗi tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên.
(1) Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển
nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
(2) Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển
văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
(4) Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb, CTQG, H.2000, t.4, tr.56.
(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t.1, tr.263.
(6) Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t.5, tr.552.
(7) Hồ Chí Minh toàn tập,Sđd, t5, tr.362
TS. Nguyễn Quang Ngọc
(Trưởng khoa Xây dựng Đảng, Trường Chính trị Trần Phú Hà Tĩnh)
 
;
.